
“Đã mang tiếng ở trong trời đất,
Phải có danh gì với núi sông.”
Hồn thơ của cụ Nguyễn Công Trứ văng vẳng đâu đây trong những ngày đầu xuân mới, khi cộng đồng doanh nhân thành phố đang cùng nhau ôn lại những kỷ niệm vượt khó khăn những năm hậu Covid-19 và hồ hởi đón chào niềm hy vọng thịnh vượng của năm Giáp Thìn. Đối với doanh nhân, đó là lời động viên và cũng là lời tuyên ngôn của giới doanh nhân dân tộc đến cộng đồng rằng họ sẽ làm nên sự nghiệp to lớn, để lại công đức, danh tiếng cho đất nước, quê hương.
Nhớ lại thời đất nước còn chìm đắm trong ách nô lệ thực dân, các nhà tư sản dân tộc đã tiên phong vượt lên tất cả. Những tên tuổi "Nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xường, tứ Bưởi" đã thể hiện tinh thần phụng sự đồng bào, tạo thế và lực cho lớp doanh nhân đủ mạnh, tự tôn dân tộc, mang tầm quốc gia dân tộc, dân quốc phú cường giành độc lập, cạnh tranh sòng phẳng với người Hoa kiều và người Pháp hồi đầu thế kỷ 20.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ, đội ngũ doanh nhân lúc đó đã bỏ tiền của mình ra, bán tài sản của mình đi để ủng hộ cho Chính phủ lâm thời, theo tinh thần: “Làm được 10 phần, giữ lại 7 phần, còn 3 phần làm từ thiện. Còn cứu độc lập là hiến tất cả”. Những người anh hùng trên mặt trận kinh tế như Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Sơn Hà, Trịnh Văn Bô, Trần Chánh Chiếu, Trương Văn Bền, v.v… luôn được đề cao và là tấm gương trong hoạt động kinh tế. Chính nhờ có họ, chúng ta đã xây dựng được những nền tảng công nghệ, thương mại độc lập, tự cường để dần vươn lên thoát khỏi sự nghèo nàn lạc hậu của quốc gia thuộc địa, phong kiến.
Những năm gần đây, doanh nghiệp dân tộc luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm và hỗ trợ phát triển. Hội nghị lần thứ năm BCHTW Đảng khóa XII ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đề ra yêu cầu “Phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh về số lượng và chất lượng, có tinh thần cống hiến cho dân tộc”. Đặc biệt, Nghị quyết số 29-NQ/TW của BCHTW Đảng khóa XIII cụ thể nhiệm vụ: “Xây dựng và triển khai định hướng phát triển một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân trong nước có quy mô lớn, hoạt động hiệu quả, có năng lực cạnh tranh quốc tế, đóng vai trò dẫn dắt, trụ cột trong một số lĩnh vực quan trọng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa...”. Và gần đây nhất, Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ mới xác định nhiệm vụ giải pháp là: “Có chính sách đột phá để hình thành, phát triển doanh nghiệp dân tộc, doanh nghiệp quy mô lớn, có vai trò dẫn dắt một số ngành, lĩnh vực then chốt, trọng yếu, có vị thế quan trọng trong chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu, làm chủ một số chuỗi giá trị công nghiệp, nông nghiệp. …”. Mục tiêu cụ thể đến năm 2030, có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp, tỉ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP đến năm 2030 đạt khoảng 60-65%.
Vừa qua, tại giữa kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã gặp gỡ các gia đình doanh nhân Việt Nam tiêu biểu. Tại đây, Chủ tịch Quốc hội đã khẳng định quyết tâm của Đảng và Chính phủ trong việc phát triển đội ngũ doanh nghiệp dân tộc. Chủ tịch cũng định hướng: “Để phát triển đội ngũ doanh nghiệp dân tộc thì rất cần phát triển đội ngũ doanh nhân Việt Nam có đạo đức, văn hóa kinh doanh mang bản sắc dân tộc, có trách nhiệm xã hội thông qua việc hình thành, nuôi dưỡng nhân cách văn hóa, phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp trong các gia đình doanh nhân.” Sự kiện này nhắc nhở mỗi chúng ta trách nhiệm trong công cuộc phục hưng đất nước của các doanh nghiệp dân tộc trong thời đại ngày nay.
Kết quả phát triển sau gần 40 năm đổi mới cho thấy, đất nước ta đã xây dựng được một đội ngũ doanh nhân, doanh nghiệp hùng hậu với số lượng hơn 900 nghìn doanh nghiệp, hơn 20 nghìn hợp tác xã và hơn 5 triệu hộ kinh doanh cá thể. Các doanh nhân Việt Nam đã tiếp nối các thế hệ cha ông thể hiện khát vọng hưng thịnh quốc gia. Nhiều doanh nghiệp gia đình đã phát triển, trở thành các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn mạnh. Nhiều doanh nghiệp dân tộc đã thành công vượt trội mang tầm quốc tế như FPT, Viettel hay Vingroup…gắn liền với các tên tuổi lẫy lừng trong thời đại mới như: Trương Gia Bình (Chủ tịch FPT), Nguyễn Mạnh Hùng (chủ tịch Viettel), Phạm Nhật Vượng (chủ tịch Vingroup)… Những người luôn mang lại niềm cảm hứng kinh doanh, tình yêu đất nước và khát vọng tự cường cho thế hệ trẻ Việt Nam.
Mặc dù có những thành tựu trên, vẫn phải thừa nhận sự phát triển của kinh tế tư nhân chưa đạt kỳ vọng. Trong giai đoạn 2016-2020, tỷ trọng vốn nội địa trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt hơn 75%; tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước chỉ đạt 28%. Doanh nghiệp FDI vẫn tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu. Mục tiêu có ít nhất 1 triệu doanh nghiệp đến năm 2020 đã không đạt như Nghị quyết 10-NQ/TW…. Đây là kết quả khá khiêm tốn so với tổng mức đầu tư và so với tiềm lực xã hội.
Chúng ta thử tìm hiểu một số trở ngại cho sự phát triển các doanh nghiệp dân tộc hiện nay:
Trước hết, thực tế chúng ta phát triển kinh tế từ trong chiến tranh nhiều năm, nền kinh tế cơ sở bị kiệt quệ, các doanh nghiệp hầu hết có vốn đầu tư mỏng, một số ở trong tình trạng “giật gấu vá vai”. Mặc dù được sự hỗ trợ rất nhiều từ Nhà nước và Ngân hàng nhưng vẫn là chưa đủ. Trong khi đó, một số chính sách về vốn thời gian gần đây lại bị cho là vật cản trên con đường phát triển vốn doanh nghiệp. Ví dụ: sự kiểm soát quá chặt chẽ của các điều kiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp làm cho thị trường vốn này gần như tắc nghẽn, doanh nghiệp không có vốn để trang trải nợ nần, phát triển kinh doanh, đặc biệt xảy ra với doanh nghiệp bất động sản. Bên cạnh đó, vấn đề phân bổ vốn, điều hòa vốn giữa các thành viên trong các tập đoàn kinh tế khó triển khai do bị khống chế bởi chính sách quản lý giao dịch liên kết của Nghị định 132/2020/NĐ-CP. Ngoài ra, quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp và 1 tổ chức tài chính, tín dụng cũng bị hạn chế bởi Nghị định này.
Thứ hai, vấn đề vốn mỏng đã bắt buộc các doanh nghiệp Việt Nam thường phải áp dụng công nghệ thô sơ, chi phí đầu tư thấp. Trong khi đó, một số yêu cầu kỹ thuật xây dựng vừa qua được ban hành ở tiêu chuẩn cao hơn đáng kể so với thực tế và lịch sử. Ví dụ chính sách quản lý giao dịch liên kết nhắm chống chuyển giá lẽ ra chỉ nên áp dụng với giao dịch bên ngoài Việt Nam thì nay điều chỉnh cho tất cả các doanh nghiệp Việt, không căn cứ qui mô kinh doanh và phạm vi kinh doanh. Bên cạnh đó, các tiêu chuẩn về phòng cháy chữa cháy, về bảo vệ môi trường… được cho là khá cao so với khả năng đầu tư của doanh nghiệp Việt và chưa tính tới yêu tố lịch sử tồn tại doanh nghiệp. Điều này góp phần làm gia tăng chi phí đầu tư, chi phí sản xuất, đội giá thành sản phẩm lên cao, giảm tính cạnh tranh giá của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Thứ ba, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đều phát triển từ truyền thống, kinh nghiệm. Không có nhiều doanh nhân được học hỏi về quản trị một cách bài bản hoặc có kiến thức pháp luật chuyên sâu về kinh tế. Trong khi đó, rất hiếm doanh nghiệp có thói quen sử dụng dịch vụ tư vấn pháp lý thường xuyên, họ chỉ tới luật sư khi xảy ra vụ việc. Do đó, hiểu biết về pháp luật và tuyệt đối tuân thủ pháp luật thường không được đề cao. Trong khi đó, thời gian qua có một số vụ án kinh tế lớn bị khởi tố, một số doanh nhân lớn bị điều tra, một số sai phạm lớn được công bố làm mọi người thức tỉnh và cảm thấy e ngại về sự mong manh giữa các quan hệ kinh tế và trách nhiệm hình sự. Từ đó, có tình trạng dè đặt, ngần ngại đáng kể đối với các quyết định đầu tư và phát triển kinh doanh. Điều này phần nào làm giảm sự năng động, sáng tạo, liều lĩnh của giới doanh nhân. Mà thử hỏi: có mấy doanh nhân thành danh mà không đôi lần “liều lĩnh”?
Giao thừa sắp tới, chúng ta chờ đón năm 2024 với những vận hội mới. Những xu hướng mới như chuyển đổi số, chuyển đổi xanh sẽ là định hướng của doanh nhân Việt trong thời kỳ mới. Chúng ta hy vọng các chính sách sẽ có sự thay đổi, phù hợp thực tế lịch sử, phù hợp nguyện vọng doanh nhân và đảm bảo quyền tự do kinh doanh hoàn hảo, nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp dân tộc phát triển, đáp ứng định hướng của Đảng và Chính phủ, cùng sự mong mỏi, niềm tin, hy vọng của cả dân tộc Việt Nam./.