Trí Nguyễn Logo
Thời gian làm việc: 7:15 – 18:30 Thứ 2 đến Thứ 7
BẢN TIN THUẾ THÁNG 07/2021

BẢN TIN THUẾ THÁNG 07/2021

BẢN TIN THUẾ THÁNG 07/2021
16/09/2021

I. CÔNG VĂN

1. Công văn số 2212/TCT-CS ngày 21/6/2021 về chính sách thuế đối với phần thu nhập không chia của cơ sở thực hiện xã hội hoá

Trường hợp Công ty cổ phần Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Đức đáp ứng quy định về danh mục chi tiết các loại hình, tiêu chí quy mô, tiêu chuẩn của các cơ sở thực hiện xã hội hoá trong lĩnh vực y tế theo Danh mục quy định của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thi hành thì phần thu nhập không chia Công ty để lại để đầu tư phát triển cơ sở đó trong lĩnh vực xã hội hoá theo quy định của pháp luật chuyên ngành về y tế là thu nhập được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp. Phần thu nhập từ các hoạt động khác không phải xã hội hoá thực hiện nộp thuế theo quy định. Tuy nhiên, hiện nay pháp luật chuyên ngành về y tế chưa có quy định cụ thể về phần thu nhập không chia của cơ sở thực hiện xã hội hoá, do vậy chưa có cơ sở để miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần thu nhập này.

Đề nghị Công ty căn cứ tình hình thực tế của doanh nghiệp và liên hệ với cơ quan chuyên ngành (Bộ Y tế) xin ý kiến về việc xác định thu nhập không chia của các cơ sở thực hiện xã hội hoá trong lĩnh vực y tế (cụ thể: các quy định có liên quan, xác định mức khống chế tỷ lệ giữ lại, điều kiện, thủ tục) đối với phần lợi nhuận giữ lại không chia của Công ty để đầu tư mở rộng đã hoàn thành đưa vào sử dụng, trên cơ sở đó liên hệ với Cục Thuế tỉnh Quảng Nam để được hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định.

2. Công văn số 2312/TCT-CS ngày 28/6/2021 về chi phí chế biến được trừ xác định giá tính thuế tài nguyên

Sở Tài chính chủ trì căn cứ hướng dẫn của Bộ Tài chính, các Bộ quản lý chuyên ngành để phối hợp với Cục Thuế, Sở Công thương, Sở Khoa học và công nghệ, Sở Tài nguyên và Môi trường... thu thập, xác minh số liệu của các doanh nghiệp khai thác, chế biến tài nguyên trong địa bàn tỉnh, thống nhất xác định chi phí chế biến được trừ trình ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định theo hướng dẫn tại tiết c2, điểm 5.1, khoản 5, Điều 6 Thông tư số 152/2015/TT-BTC nêu trên.

Trường hợp chưa có đủ thông tin đáng tin cậy làm căn cứ xây dựng phương án giá tính thuế tài nguyên, đề nghị Sở Tài chính phối hợp hoặc báo cáo ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo cơ quan thuế và các cơ quan liên quan phối hợp xác minh thông tin về chi phí chế biến công nghiệp của công đoạn chế biến từ sản phẩm tài nguyên thành sản phẩm công nghiệp của các đơn vị khai thác chế biến tài nguyên thông qua công tác kiểm tra, thanh tra theo quy định tại khoản 5, Điều 107 Luật Quản lý thuế năm 2019 nêu trên.

3. Công văn số 2318/TCT-CS ngày 28/6/2021 về chính sách thuế GTGT đối với dịch vụ cho thuê kho ngoại quan và dịch vụ cung cấp trong kho ngoại quan.

Về chính sách thuế giá trị gia tăng đối với dịch vụ cho thuê kho ngoại quan và các dịch vụ cung cấp trong kho ngoại quan, Bộ Tài chính đã có công văn số 14688/BTC-TCT ngày 19/10/2015 gửi Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bình Dương, Tổng cục Thuế đã có công văn số 5293/TCT-CS ngày 10/12/2015 gửi một số Cục Thuế và doanh nghiệp có vướng mắc đồng thời nơi nhận gửi Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (bản photo các công văn kèm theo) .

Trích Công văn số 5293/TCT-CS ngày 10/12/2015 mà Công văn 2318 nêu trên đính kèm”

“Trường hợp, doanh nghiệp được phép thành lập và kinh doanh kho ngoại quan theo quy định thực hiện cung cấp: dịch vụ cho thuê kho ngoại quan cho tổ chức, cá nhân nước ngoài để lưu trữ hàng hóa cho tổ chức, cá nhân ở nước.ngoài trước khi xuất khẩu, chuyển khẩu, quá cảnh, tái xuất hoặc để phục vụ sản xuất, gia công hàng hóa xuất khẩu; dịch vụ bốc dỡ hàng hóa, đóng gói bao bì dán nhãn mác cung cấp cho tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện trong kho ngoại quan gắn với xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài thì các dịch vụ này áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% nếu đáp ứng điều kiện tại khoản 2 Điều 9 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính .

Trường hợp doanh nghiệp được phép thành lập và kinh doanh kho ngoại quan theo quy định thực hiện cung cấp dịch vụ cho thuê kho ngoại quan, dịch vụ bốc dỡ hàng hóa đóng gói bao bì, dán nhãn mác cung cấp cho tổ chức, cá nhân nước ngoài nhưng gắn với việc bán, phân phối, tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa tiêu dùng tại Việt Nam thì thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 9 Thông tư số 219/2015/TT-BTC nêu trên. “

4. Công văn số 2370/TCT-CS ngày 30/6/2021 về hóa đơn

Cơ sở kinh doanh mới thành lập trong thời gian từ ngày Nghị định số 123/2020/NĐ-CP được ban hành đến ngày 30 tháng 6 năm 2022, nếu cơ quan thuế thông báo cơ sở kinh doanh thực hiện áp dụng hóa đơn điện tử theo quy định tại Nghị định số 123/2020/NĐ-CP thì cơ sở kinh doanh thực hiện theo hướng dẫn của cơ quan thuế.

Trường hợp do chưa đáp ứng điều kiện về hạ tầng công nghệ thông tin cơ quan thuế chưa thông báo cơ sở kinh doanh mới thành lập sử dụng hóa đơn điện tử theo Nghị định số 123/2020/NĐ-CP thì các cơ sở kinh doanh mới thành lập đăng ký phát hành hóa đơn tự in, hóa đơn đặt in, hóa đơn điện tử hoặc mua hóa đơn của cơ quan thuế để sử dụng (nếu thuộc trường hợp mua hóa đơn) và thực hiện các thủ tục hành chính về hóa đơn theo quy định tại Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/05/2010, Nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 17/01/2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP, Nghị định số 04/2014/NĐ-CP.

5. Công văn số 2373/TCT-CS ngày 30/6/2021 về việc xuất hóa đơn GTGT điều chuyển tài sản khi tách doanh nghiệp

Trường hợp tài sản điều chuyển theo giá trị ghi trên sổ sách kế toán từ Công ty TNHH HANSUNG TECH cho Công ty TNHH UNIC TECHNOLOGY (là doanh nghiệp được tách từ Công ty TNHH HANSUNG TECH) là tài sản điều chuyển khi tách doanh nghiệp theo đúng quy định của pháp luật thì thuộc trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT theo quy định tại điểm b khoản 7 Điều 5 Thông tư số 219/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính. Cơ sở kinh doanh có tài sản điều chuyển phải có lệnh điều chuyển tài sản, kèm theo bộ hồ sơ nguồn gốc tài sản và không phải xuất hóa đơn.

6. Công văn số 2393/TCT-DNNCN ngày 1/7/2021 về khai thuế TNCN

(1) Về khai thuế TNCN tháng, quý

Trường hợp các cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan hành chính sự nghiệp, các cơ quan đảng, đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội,…có phát sinh trả thu nhập từ tiền lương, tiền công nhưng không phát sinh doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ thì thuộc đối tượng khai thuế thu nhập cá nhân theo quý.

(2) Về khai thuế TNCN của tổ chức, cá nhân không phát sinh trả thu nhập

Chỉ trường hợp tổ chức, cá nhân phát sinh trả thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân mới thuộc diện phải khai thuế thu nhập cá nhân. Do đó, trường hợp tổ chức, cá nhân không phát sinh trả thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân thì không thuộc diện điều chỉnh của Luật thuế Thu nhập cá nhân Theo đó, tổ chức, cá nhân không phát sinh trả thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân tháng/quý nào thì không phải khai thuế thu nhập cá nhân của tháng/quý đó.

7. Công văn số 2588/TCT-CS ngày 15/7/2021 về vướng mắc về chuyển mục đích sử dụng đất

Căn cứ quy định tại điểm a, b, d khoản 2 Điều 5, khoản 2 Điều 14 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất;

Căn cứ quy định tại điểm a khoản 4 Điều 10 Thông tư liên tịch số 88/2016/TTLT/BTC-BTNMT ngày 22/6/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư liên tịch quy định về hồ sơ và trình tự thủ tục tiếp nhận luân chuyển hồ sơ xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai của người sử dụng đất;

Căn cứ quy định nêu trên, cơ quan thuế căn cứ hồ sơ địa chính (biên bản xác minh thực địa có xác nhận của đại diện phòng Tài nguyên và Môi trường và UBND phường) trong đó có xác định hiện trạng diện tích đất là không có nhà ở trên đất; tại công văn số 70/CNVPĐKĐĐ ngày 13/9/2019, Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Điện Biên Phủ xác định không có hồ sơ cấp GCNQSDĐ số 2098 ngày 12/11/2001 cấp cho ông Hoàng Trung Thực liên quan đến mảnh đất nêu trên, do đó việc tính thu tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất đối với trường hợp của bà Nguyễn Thị Tâm được thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Trường hợp có sai sót thông tin trong việc xác định nhà ở trên đất, hồ sơ cấp GCNQSDĐ thì đề nghị Cơ quan thuế hướng dẫn người nộp thuế liên hệ với Cơ quan tài nguyên và môi trường tại địa phương để được xác định, điều chỉnh và bổ sung thông tin làm cơ sở để cơ quan thuế xác định lại nghĩa vụ tài chính theo đúng quy định của pháp luật.

8. Công văn số 2626/TCT-DNNCN ngày 19/7/2021 giới thiệu một số điểm mới và triển khai thực hiện Thông tư số 40/2021/TT-BTC

Ngày 01 tháng 6 năm 2021, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 40/2021/TT-BTC hướng dẫn thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 8 năm 2021, Tổng cục Thuế giới thiệu một số điểm mới về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh và triển khai thực hiện Thông tư số 40/2021/TT-BTC ngày 01 tháng 6 năm 2021 của Bộ trưởng Bộ Tài chính (chi tiết nêu tại Phụ lục đính kèm).

9. Công văn số 2669/TCT-CS ngày 20/7/2021 về xác định tiền thuê đất

Theo Luật Đất đai 2013, tổ chức sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính đang được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất phải chuyển sang thuê đất kể từ thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính. Đối với khoảng thời gian tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính thực tế đã sử dụng đất chưa có quyết định cho thuê đất, hợp đồng thuê đất thì việc tính thu tiền thuê đất được xác minh trên các căn cứ sau: Diện tích tính thu tiền thuê đất là diện tích thực tế đang sử dụng, mục đích sử dụng đất thuê theo mục đích thực tế đang sử dụng, đơn giá thuê đất để tính tiền thuê đất phải nộp hàng năm không được ổn định theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Vì vậy, đề xuất của Cục Thuế tỉnh Gia Lai về việc không tính tiền thuê đất cho khoảng thời gian từ ngày 17/5/2018 (thời điểm Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai được ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai giao quyền tự chủ) đến ngày 28/02/2021 do cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa ban hành quyết định, hợp đồng thuê đất là không có căn cứ pháp lý và chưa phù hợp với quy định của pháp luật về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.

10. Công văn số 2674/TCT-CS ngày 20/7/2021 về tính thu tiền sử dụng đất chuyển mục đích vượt hạn mức

Đối với trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất ở quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 5 Thông tư số 76/2014/TT-BTC thì thu tiền sử dụng đất bằng mức chênh lệch giữa tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở với tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp. Giá đất tính thu tiền sử dụng đất là giá đất tại thời điểm có quyết định cho phép chuyển mục đích của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong đó: Đối với diện tích đất vượt hạn mức giao đất ở, giá đất tính thu tiền sử dụng đất của mục đích trước và sau khi chuyển mục đích (mục đích đất nông nghiệp và mục đích đất ở) là giá đất tương ứng với từng mục đích và từng trường hợp áp dụng các phương pháp định giá đất quy định tại Điểm 1.1 Khoản 1 Điều 3 Thông này.

Hệ số điều chỉnh giá đất (tương ứng với từng mục đích sử dụng đất) do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ban hành áp dụng từ ngày 01 tháng 01 hàng năm. Trường hợp tại thời điểm xác định tiền sử dụng đất mà Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chưa ban hành hệ số điều chỉnh giá đất theo quy định thì áp dụng hệ số điều chỉnh giá đất đã ban hành của năm trước đó để xác định tiền sử dụng đất phải nộp theo quy định Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 123/2017/NĐ-CP ngày 14/11/2017 của Chính phủ.

11. Công văn số 2701/TCT-CS ngày 21/7/2021 về thuế GTGT

Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Cathay Việt Nam và Công ty Cổ phần thương mại và đầu tư TC Việt Nam căn cứ quy đinh Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm, pháp luật về thuế giá trị gia tăng để xác định rõ các khoản doanh thu từ hợp đồng đại lý bảo hiểm và kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng theo quy định pháp luật, cụ thể:

- Doanh thu nhận bán đại lý bán bảo hiểm để thực hiện các hoạt động đại lý bảo hiểm theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm thuộc trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng.

- Doanh thu từ hợp đồng đại lý bảo hiểm để thực hiện các hoạt động khác ngoài hoạt động đại lý bảo hiểm theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm thì không áp dụng quy định tại khoản 7 Điều 5 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính .

12. Công văn số 2753/TCT-CS ngày 23/7/2021 hướng dẫn chính sách thuế TNDN đối với hoạt động chế biến thủy sản

Kể từ kỳ tính thuế năm 2015, thu nhập của doanh nghiệp từ hoạt động chế biến thủy sản nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định được hưởng mức ưu đãi thuế TNDN như sau :

- Nếu phát sinh tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn được áp dụng miễn thuế TNDN.

- Nếu phát sinh tại địa bàn kinh tế xã hội khó khăn được áp dụng thuế suất thuế TNDN 10%.

II. NGHỊ QUYẾT

Nghị quyết 68/NQ-CP ngày 01/7/2021 về gói hỗ trợ cho doanh nghiệp và người lao động bị tác động bởi dịch Covid-19. Có 12 nhóm chính sách cụ thể như sau:

Nhóm 1 là giảm mức đóng bảo hiểm xã hội về tai nạn nghề nghiệp. Hiện quy định là người sử dụng lao động đóng 0.5% thu nhập cho quỹ này.

Theo Nghị quyết 68, mức phí này được giảm trong 12 tháng, nghĩa là không phải đóng tiền nhưng nếu có rủi ro xảy ra, người lao động vẫn được đảm bảo quyền lợi. 11 triệu người sẽ được thụ hưởng chính sách này. Toàn bộ số tiền được giảm đóng này, người sử dụng lao động phải dùng để chi trả cho người lao động.

Nhóm 2, tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất. Chính sách này tiếp tục thực hiện theo Nghị quyết 42 nhưng mức tiêu chí giảm nhiều so với Nghị quyết 42. Thời gian áp dụng là 12 tháng.

Nhóm 3, hỗ trợ đào tạo với người lao động, sử dụng kinh phí từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Mức hỗ trợ với mỗi người là 1,5 triệu/tháng, không quá 6 tháng. Thời gian áp dụng từ 1/7/2021 tới hết 30/6/2022.

Nhóm 4,, hỗ trợ người lao động tạm hoãn hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương từ 1/5 tới 31/12 năm 2021.

Có 2 nhóm đối tượng được hưởng chính sách này, một nhóm (bị tạm dừng hợp đồng lao động từ 15 ngày tới 1 tháng) được hỗ trợ 1,8 triệu đồng và một nhóm (bị tạm dừng hợp đồng lao động trên 1 tháng) được hỗ trợ 3,710 triệu đồng.

Nhóm 5, hỗ trợ người lao động ngừng việc. Theo đó, người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động bị ngừng việc và thuộc đối tượng phải cách ly y tế hoặc trong các khu vực bị phong tỏa theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ 14 ngày trở lên trong thời gian từ 1/5/2021 đến hết 31/12/2021, đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tính đến thời điểm ngay trước khi ngừng việc, được hỗ trợ một lần 1.000.000 đồng/người.

Nhóm 6, hỗ trợ trẻ em và phụ nữ mang thai. Phụ nữ mang thai ngoài các chính sách chung được hỗ trợ 1,7 triệu đồng/tháng. Mỗi trẻ em được hưởng thêm 1 triệu đồng/tháng, chỉ thực hiện hỗ trợ cho một người nuôi dưỡng, hoặc mẹ hoặc bố.

Nhóm 7, hỗ trợ tiền ăn 80.000 đồng/người/ngày với công nhân đang phải điều trị Covid-19 hoặc phải cách ly để phòng chống dịch. Những đối tượng này được hưởng hỗ trợ theo số ngày thực tế phải thực hiện các biện pháp cách ly.

Nhóm 8, hỗ trợ người lao động trong các đơn vị hoạt động nghệ thuật phải nghỉ để phòng chống dịch. Mức hỗ trợ là 3,7 triệu đồng/người.

Nhóm 9, hỗ trợ hướng dẫn viên du lịch (được cấp thẻ hành nghề, bị ảnh hưởng sâu, mất việc từ 15 ngày trở lên) với mức hỗ trợ một lần 3.710.000 đồng/người

Nhóm 10, hộ kinh doanh có đăng ký thuế và phải dừng hoạt động từ 15 ngày liên tục trở lên trong thời gian từ ngày 1/5/2021 đến hết ngày 31/12/2021 theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phòng, chống dịch Covid-19 được hỗ trợ một lần 3 triệu đồng/hộ.

Nhóm 11, cho vay để trả lương. Chính sách cho vay trả lương để phục hồi sản xuất là một chính sách mới, được vay với mức lãi suất 0%, không phải thế chấp tài sản, mức vay bằng một tháng lương cần trả cho người lao động, áp dụng tối đa 3 tháng. Áp dụng với những lĩnh vực bị ảnh hưởng sâu như kinh

Nhóm thứ 12 là hỗ trợ người lao động tự do và một số đối tượng đặc thù khác. Căn cứ vào điều kiện cụ thể của các địa phương để xây dựng chính sách cụ thể nhưng không ít hơn 1,5 triệu đồng/người/tháng hoặc mức 50.000 đồng/người/ngày.

Trân trọng,